Hôn nhân và gia đình

Bán nhà thế nào khi bố chết, con riêng của bố mất tích?

Cập nhật ngày: 24/03/2016
Câu hỏi: Ba mẹ tôi chung sống cùng tạo lập được 2 ngôi nhà và cùng đứng tên giấy tờ nhà đất. Ba tôi đã chết, mẹ tôi muốn bán 1 căn nhà. Nhà có 7 đứa con chung và 2 đứa con riêng của ba tôi, 8 đứa con và mẹ tôi đều đồng thuận bán nhà, còn 1 đứa con riêng của ba tôi thì đã bỏ đi đâu không ai biết, vậy bán nhà được không? Giấy tờ như thế nào? Cần các loại giấy gì?
Trả lời: Theo như những gì bạn trình bày thì ba bạn chết không để lại di chúc, di sản của ba bạn sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật. Ðiều 676 Bộ luật Dân sự quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
"1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."
Theo quy định nêu trên thì những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế do ba bạn để lại gồm: bố đẻ, mẹ đẻ của ba bạn (nếu còn sống); vợ; 7 người chung; 2 người con riêng.

* Bán nhà khi 1 người con riêng mất tích:
Vì ba bạn chết không để lại di chúc nên để làm các thủ tục bán căn nhà thì cần phải có sự đồng ý của những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất nêu trên.
Tuy nhiên, nếu 01 người con riêng của ba bạn đã bỏ đi đâu không ai rõ và đã lâu không có thông tiên liên lạc nào, gia đình có thể làm thủ tục tuyên bố mất tích đối với người này trường hợp người này đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có thông tin. Sau 3 năm kể từ ngày có quyết định tuyên bố người này mất tích, gia đình thực hiện tiếp thủ tục tuyên bố người này đã chết. Hoặc gia đình có thể làm luôn thủ tục tuyên bố người con riêng này đã chết trường hợp người này đã biệt tích 05 năm liền trở lên mà không có thông tin. Khi đó, phần di sản mà người con riêng này được hưởng sẽ được chia theo pháp luật.
Sau khi Tòa án tuyên bố người con riêng này đã chết, những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ba bạn, bao gồm: bố đẻ, mẹ đẻ của ba bạn (nếu còn sống); vợ; 7 người chung; 1 người con riêng và những người thừa kế của người con riêng được tuyên bố là đã chết sẽ đến Phòng công chứng hoặc Văn phòng công chứng để làm thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản thừa kế. Trình tự, thủ tục được quy định tại Luật công chứng. Bạn có thể đến Phòng công chứng/ Văn phòng công chứng bất kỳ để được tư vấn hỗ trợ.
Sau khi thực hiện xong những thủ tục này thì gia đình bạn mới có thể bán được căn nhà là di sản thừa kế của bố bạn để lại.

* Thủ tục tuyên bố một người mất tích:
1. Người có quyền, lợi ích liên quan làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích, nội dung đơn bao gồm: Ngày tháng năm viết đơn, tên địa chỉ của người yêu cầu, mối quan hệ của Người yêu cầu, những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết, lý do, mục đích của việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó. Tên địa chỉ của những người có liên quan, các thông tin khác mà người yêu cầu thấy cần thiết cung cấp, kèm theo các tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Kèm theo đơn là chứng cứ chứng mình người bị yêu cầu tuyên bố là mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết  và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm (có thể là sự xác nhận của công an địa phương cấp xã về việc người đó đã đi khỏi nơi đăng kí thường trú đã quá hai năm liền mà hiện nay không biết ở đâu hoặc công an xã đã xoá hộ khẩu thường trú nếu có) (Điều 330 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2011).
2. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích (thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng Trung ương). Thời hạn thông báo là 04 tháng kể từ ngày đăng thông báo lần đầu tiên. Sau 15 ngày kể từ ngày hết hạn công bố thông báo, Tòa án sẽ mở phiên họp xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố mất tích. (Điều 331, 332 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2011).

* Thủ tục tuyên bố một người đã chết:
1. Người có quyền, lợi ích liên quan làm đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người đã chết. Nội dung đơn bao gồm: Ngày tháng năm viết đơn, tên địa chỉ của người yêu cầu, mối quan hệ của Người yêu cầu, những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết, lý do, mục đích của việc yêu cầu Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó. Tên địa chỉ của những người có liên quan, các thông tin khác mà người yêu cầu thấy cần thiết cung cấp, kèm theo các tài liệu chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Kèm theo đơn là Quyết định tuyên bố một người mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật, đã quá 03 năm kể từ ngày ra quyết định mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống hoặc chứng cứ chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố đã chết đã biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống. (Điều 81 Bộ luật dân sự 2005, Điều 335 Bộ luật Tố tụng dân sự 2005, sửa đổi bổ sung năm 2011)
2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Tòa án ra quyết định mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu. Tòa án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết. Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết. Trong quyết định Tòa án phải xác định ngày chết của người đó. (Điều 336, 337 Bộ luật tố tụng dân sự 2005, sửa đổi bổ sung năm 2011).

Trường hợp vẫn còn thắc mắc, mời bạn đến trực tiếp văn phòng chúng tôi, Công ty Luật Trần Gia, địa chỉ: Lô E1, khu Bồ Hỏa, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Hà Nội hoặc gọi điện đến tổng đài 1900.6287 để được tư vấn trực tiếp.

Cám ơn bạn đã tin tưởng dịch vụ của chúng tôi!

Trân trọng!
Ban biên tập – Luật Trần Gia




Quý khách có nhu cầu tư vấn luật hoặc sử dụng dịch vụ, vui lòng liên hệ: 1900.6287
---->>  LUẬT SƯ TƯ VẤN (24/7) GỌI: 1900.6287
---->>  Gửi yêu cầu dịch vụ hoặc yêu cầu đến luật sư
---->>  Tham khảo dịch vụ pháp lý và tìm hiểu kiến thức luật tại: http://luattrangia.com
---->>  Bản quyền thuộc về Công ty Luật TNHH MTV Trần Gia



Bài viết cùng chủ đề




Bài viết liên quan

X
Đặt câu hỏi
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Nhận hồ sơ trực tuyến
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
X
Yêu cầu gọi lại
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.
Hỗ trợ trực tuyến
Hotline tư vấn tại nhà
Danh sách đối tác